
- Căn hộ Nhật cho thuê bình thường là một cái phòng trống hoàn toàn: không tủ lạnh, không máy giặt, không rèm, nhiều nơi không có cả bóng đèn.
- Sắm đủ đồ cho một phòng một buồng mất khoảng 130.000 đến 300.000 yên nếu mua mới, khoảng 90.000 yên nếu chịu khó mua đồ cũ.
- Lúc về nước còn một khoản nữa ít người tính: vứt đồ tốn 20.000 đến 40.000 yên, vì rác cỡ lớn (sodai-gomi) tính tiền theo từng món và đồ điện phải trả phí tái chế riêng.
- Phòng có sẵn nội thất ở Tokyo từ 38.000 yên/tháng, chi phí ban đầu trọn gói khoảng 30.000 đến 50.000 yên, cọc và tiền lễ đều 0 yên. Chỉ nhận người 18 đến 49 tuổi.
- Năm đầu, phòng nội thất 68.000 yên tốn 866.000 yên, còn căn hộ thường 78.000 yên tốn 1.453.300 yên đã tính tiền mua đồ. Chênh 587.300 yên.
- Đây không phải share house: là phòng khép kín một buồng hoặc 1K, bếp và khu vệ sinh riêng, một số phòng cho hai người ở.
Xuống sân bay với hai cái vali, tối đó đã có chỗ ngủ tử tế.
Phòng khép kín ở Tokyo có sẵn giường, tủ lạnh, máy giặt và điều hòa, từ 38.000 yên mỗi tháng. Không cọc, không tiền lễ, không cần người bảo lãnh. Nhận người từ 18 đến 49 tuổi.
Phần lớn người Việt sang Nhật hạ cánh với một hai cái vali và số tiền mặt đã trừ hết phí môi giới trước khi đi. Rồi mở cửa phòng ra thì thấy một cái hộp trống. Nhà cho thuê bình thường ở Nhật giao đúng như vậy: không tủ lạnh, không máy giặt, không giường, không rèm, có chỗ trần nhà chỉ có một cái đui đèn để không. Bạn tự mua tất, và ngày rời đi bạn tự trả tiền để vứt tất.
Với người ở Nhật ba năm, năm năm rồi về, hoặc đổi công ty rồi chuyển tỉnh, cái phòng trống đó là hai khoản tiền chứ không phải một. Phòng có sẵn nội thất xóa cả hai. Nhưng phải kiểm tra kỹ từ "có sẵn nội thất" ở đúng tòa nhà đó nghĩa là gì, vì cụm này che rất nhiều mức khác nhau.
"Có sẵn nội thất" ở Nhật không có định nghĩa chuẩn
Không có luật nào quy định, cũng không có gói tiêu chuẩn. Chữ trên tin đăng là kagu-kaden tsuki, nghĩa là kèm nội thất và đồ điện. Ở mức mỏng nhất, nó có thể chỉ là một cái khung giường với một cái tủ lạnh mini, hết. Ở mức đầy đủ, nó là một cái phòng mà tối bạn dọn vào là nấu ăn và ngủ được ngay.
Ví dụ cho mức đầy đủ: đơn vị quảng cáo trên trang này trang bị sẵn giường, bàn, ghế, rèm, điều hòa, tủ lạnh, lò vi sóng, máy giặt và tivi. Chăn đệm không nằm trong đó, phải thuê thêm 1.000 yên mỗi tháng chưa thuế, tức 12.000 yên chưa thuế một năm, đắt hơn tự mua một bộ. Đây là chỗ nên tính riêng nếu bạn định ở dài.
Trước khi ký, hãy xin danh sách đồ đạc bằng văn bản, liệt kê từng món, và hỏi rõ ai trả tiền khi tủ lạnh hay máy giặt hỏng. Ảnh trên tin đăng không phải cam kết hợp đồng, và tiếng Việt nói qua điện thoại cũng không phải.
Sắm đồ cho một phòng trống tốn bao nhiêu
Giá thay đổi theo mùa và theo cửa hàng, nên hãy đọc bảng dưới như hình dạng của cái hóa đơn, không phải báo giá:
| Món | Mua mới, loại rẻ | Mua cũ |
|---|---|---|
| Tủ lạnh 100 đến 150 lít | 30.000 đến 50.000 yên | 10.000 đến 20.000 yên |
| Máy giặt 5 kg | 35.000 đến 50.000 yên | 12.000 đến 20.000 yên |
| Giường và đệm | 30.000 đến 60.000 yên | 5.000 đến 20.000 yên |
| Lò vi sóng | 10.000 đến 20.000 yên | 3.000 đến 8.000 yên |
| Bàn, ghế, rèm, đèn | 20.000 đến 45.000 yên | 5.000 đến 15.000 yên |
| Điều hòa kèm lắp đặt, nếu phòng chưa có | 60.000 đến 100.000 yên | gần như không đáng mua |
Phần lớn căn hộ mới ở Tokyo đã có điều hòa, nên con số thực tế là khoảng 130.000 đến 200.000 yên nếu mua mới, và 200.000 đến 300.000 yên nếu phải lắp thêm điều hòa. Đi cửa hàng đồ cũ, mua qua ứng dụng bán đồ giữa cá nhân, hoặc mua lại của người sắp về nước thì kéo được xuống khoảng 90.000 yên. Cái giá phải trả là vài ngày nghỉ chạy đi chạy lại, tự khiêng, và không có bảo hành: máy giặt cũ hỏng sau bốn tháng là chuyện rất thường.
Với người mới sang, khoản 130.000 yên này rơi đúng vào lúc túi tiền mỏng nhất: lương tháng đầu chưa về, tiền vé máy bay và phí phái cử vừa trả xong, mà tiền vào nhà thì đã nộp trước đó.
Khoản ít người tính: ngày bạn vứt đống đồ đó đi
Ở Nhật không được để đồ cũ ra vỉa hè. Đồ cỡ lớn phải bỏ theo diện sodai-gomi, tức rác cỡ lớn: gọi điện hoặc đăng ký lịch thu gom với quận trước, ra cửa hàng tiện lợi mua tem trả phí, dán vào món đồ, rồi mang ra đúng điểm vào đúng buổi sáng được hẹn. Phí tính theo từng món, từ vài trăm đến vài nghìn yên, và lịch thường phải chờ vài tuần. Tháng 3 là tệ nhất vì cả nước chuyển nhà cùng lúc, đúng mùa nhiều người kết thúc hợp đồng lao động.
Đồ điện thì nằm ngoài sodai-gomi và đắt hơn. Tủ lạnh, máy giặt, tivi và điều hòa thuộc luật tái chế đồ gia dụng: bạn trả phí tái chế cộng phí vận chuyển, thường khoảng 5.000 đến 7.000 yên mỗi món. Dọn sạch một phòng một buồng thường rơi vào 20.000 đến 40.000 yên. Mức phí khác nhau theo quận, nên phải hỏi tòa thị chính nơi bạn ở.
Đây là chỗ đau nhất với người về nước hoặc chuyển vùng: cái tủ lạnh bạn mua 40.000 yên hồi mới sang, sau ba năm bán lại gần như không ai mua, cho không cũng khó vì người nhận phải tự thuê xe chở. Thực tế nó có giá trị âm. Bạn trả tiền để mua nó, rồi trả tiền lần nữa để nó biến mất. Cộng lại, một vòng đời "mua mới rồi vứt" cho một phòng trống là khoảng 150.000 đến 240.000 yên tiền bốc hơi hoàn toàn, chưa tính tiền nhà.
Đừng để việc thanh lý đến tuần cuối. Nếu bạn báo nghỉ việc và có vé bay sau ba tuần mà chưa đặt lịch sodai-gomi, khả năng cao bạn sẽ phải thuê dịch vụ dọn tư nhân với giá cao hơn nhiều, hoặc bỏ lại đồ trong phòng và bị trừ vào tiền cọc.
Một năm và ba năm, đặt cạnh nhau
So một phòng có sẵn nội thất giá 68.000 yên với một căn hộ thường 78.000 yên trong 23 quận Tokyo. Phía hợp đồng thường lấy ví dụ đã tính trong bài chi phí ban đầu khi thuê nhà ở Nhật: 395.300 yên, trong đó đã gồm tiền nhà tháng đầu. Phía phòng nội thất lấy chi phí ban đầu trọn gói 50.000 yên, tức mức cao trong khoảng công bố, và 200.000 yên tiền mua đồ mới cho bên kia.
| Phòng nội thất, 68.000 yên | Hợp đồng thường, 78.000 yên | |
|---|---|---|
| Tiền vào nhà | 50.000 yên | 395.300 yên |
| Nội thất và đồ điện | 0 yên | 200.000 yên |
| Tổng sau 12 tháng | 866.000 yên | 1.453.300 yên |
| Tổng sau 36 tháng, tính cả tiền vứt đồ | 2.498.000 yên | 3.355.300 yên |
Chênh lệch là 587.300 yên trong năm đầu và 857.300 yên qua ba năm. Và đó là chưa tính phí gia hạn hợp đồng, thường bằng khoảng một tháng tiền nhà, mà hợp đồng thường thu vào mốc hai năm.
Nhưng phải sòng phẳng với bên kia: sở dĩ con số đẹp như vậy vì phòng nội thất lấy ở đây rẻ hơn. Thử lấy một phòng nội thất đắt hơn lựa chọn thay thế, ví dụ 83.000 yên ở Nishi-Shinjuku so với căn hộ thường 78.000 yên. Nếu chỉ tính tiền nhà và tiền vào nhà thì hợp đồng thường đuổi kịp sau hơn bốn năm một chút. Cộng thêm 90.000 yên đồ cũ và 25.000 yên tiền vứt đồ vào phía hợp đồng thường thì điểm hòa dịch sang khoảng sáu năm rưỡi; nếu mua đồ mới thì gần tám năm.
Nguyên tắc rút ra rất đơn giản: tiền mua đồ là một lần, còn tiền nhà cao hơn thì tháng nào cũng trả. Ở một hai năm thì loại có sẵn nội thất khó thua. Ở mười năm thì nó không phải câu trả lời, mà giới hạn tuổi 18 đến 49 cũng khiến nó không thể là kế hoạch vĩnh viễn.
Tính trên một cái phòng có thật, đừng tính trên số trung bình.
Danh sách ghi rõ tiền nhà, ga gần nhất và những gì có sẵn trong phòng. Xem không mất phí và không ràng buộc.
So sánh phòng có sẵn nội thất và giá thuê
Căn hộ có sẵn nội thất không phải là share house
Đây là chỗ bị nhầm nhiều nhất, kể cả trong các nhóm người Việt ở Nhật. Lý do là hai loại này hay do cùng một đơn vị vận hành, nên người ta gộp làm một.
| Căn hộ có sẵn nội thất | Share house | |
|---|---|---|
| Kiểu phòng | Phòng khép kín một buồng hoặc 1K | Phòng riêng hoặc phòng ghép trong một căn nhà lớn |
| Bếp, tắm, vệ sinh | Riêng, nằm trong phòng bạn | Dùng chung với người khác |
| Dọn dẹp | Bạn tự lo | Khu vực chung có dịch vụ dọn |
| Số người ở | Một người; một số tòa cho hai người | Một người |
Những phàn nàn quen thuộc, kiểu chờ đến lượt tắm hay đồ ăn trong tủ lạnh chung bị lấy mất, chỉ thuộc cột bên phải. Nếu bạn từng đọc ở đâu đó rằng loại nhà này "không có riêng tư", thì người viết đang nói về share house. Bài đánh giá Xross House tách hai loại ra và nói mặt được lẫn mặt mất của từng loại.
Ngoài nội thất ra, bạn còn được gì
Thật ra với người mới sang, cái giường và cái tủ lạnh chưa chắc là khoản tiết kiệm lớn nhất. Ba thứ đi kèm sau đây mới nặng ký.
Không cọc, không tiền lễ, không phí môi giới. Shikikin là tiền đặt cọc, hiếm khi được trả lại đủ; reikin là tiền lễ, tức tiền biếu chủ nhà và không bao giờ hoàn lại. Ở đây cả hai đều 0 yên, phí môi giới cũng 0 yên. Thay vào đó là một khoản chi phí ban đầu trọn gói, khoảng 30.000 đến 50.000 yên tùy phòng và tùy gói. Cũng không cần người bảo lãnh (hoshonin), chỉ cần một người liên lạc khẩn cấp, có thể là bạn bè, đồng nghiệp hoặc người nhà.
Nhanh, và làm được từ xa. Đăng ký và ký hợp đồng hoàn toàn trực tuyến, nên bạn chốt được phòng khi còn ở Việt Nam, hoặc khi còn đang ở tỉnh khác và chưa xin nghỉ được để đi xem nhà. Hợp đồng là một năm nhưng ở tối thiểu một tháng, báo trước một tháng là ra. Chi tiết ở bài thuê nhà ngắn hạn và theo tháng ở Tokyo.
Chuyển sang tòa nhà khác của họ mất 0 yên. Cả phí vào lẫn phí ra đều bằng không, kể cả khi chuyển sang vùng khác, ví dụ từ Tokyo xuống Osaka. Ngoài thị trường, mỗi lần chuyển là trả lại từ đầu toàn bộ cọc, tiền lễ, phí môi giới và phí bảo lãnh, chưa kể tiền dọn nhà và tiền vứt đồ cũ. Với người chuyển từ thực tập sinh sang kỹ năng đặc định, đổi công ty, hoặc theo việc sang tỉnh khác, đây thường là điều khoản đáng tiền nhất trong cả hợp đồng.
Phòng nằm ở đâu và giá bao nhiêu
Tiền nhà ở Tokyo mua vị trí, và khoảng cách rất rộng. Bốn phòng có thật:
| Tòa nhà | Tiền nhà | Vị trí |
|---|---|---|
| Terrace Higashi-Kurume | 38.000 yên | Tuyến Seibu Ikebukuro, khoảng 30 phút vào trung tâm |
| Maison de Madrier | 68.000 yên | Setagaya-Daita, phía tây nội thành |
| Luce Nishi-Shinjuku | 83.000 yên | Nishi-Shinjuku, trung tâm |
| Neo Tokyo Annex | 109.000 yên | Khu vực Shinagawa |
Căn hộ nhỏ trong 23 quận thuê từ khoảng 78.000 yên trở lên, nên hai mức 38.000 và 68.000 yên mới là nhà ở giá rẻ thật sự, và đó là nhóm đáng xem với thực tập sinh, kỹ năng đặc định và du học sinh. Hai mức 83.000 và 109.000 yên thì bạn không mua giá rẻ, bạn mua địa chỉ trung tâm cộng với việc không phải bỏ tiền vào nhà; nói ngắn gọn, đó là bài toán của người có lương cao hơn. Chênh lệch giữa phòng rẻ nhất và đắt nhất là 71.000 yên mỗi tháng, và gần như toàn bộ khoản đó là thời gian đi tàu.
Phí quản lý (kyoeki-hi) và điện nước không được công bố cho các phòng này. Điện, ga, nước, internet và phí khu vực chung có thể cộng thêm đáng kể vào con số tiền nhà bạn nhìn thấy. Hãy hỏi tổng chi phí mỗi tháng bằng văn bản, rồi mới so sánh.
Ai không nên chọn loại này
Người xác định ở Nhật lâu dài. Qua mốc năm sáu năm thì phép tính lật ngược, và đến lúc đó bạn cũng muốn một căn hộ tự bày biện theo ý mình.
Gia đình có con nhỏ. Đây là phòng một buồng và 1K. Một số tòa cho hai người ở nên vợ chồng không bị loại, phải hỏi rõ tòa nào; nhưng có con thì không phù hợp.
Người từ 50 tuổi trở lên. Đơn vị này chỉ nhận người từ 18 đến 49 tuổi. Đây là điều kiện cứng, không phải ưu tiên, và cũng chỉ áp dụng cho khách lần đầu dùng dịch vụ.
Người cần một khu vực họ không phủ. Mạng lưới tập trung ở Tokyo và một vài vùng khác. Ra ngoài phạm vi đó thì lợi thế chuyển nhà miễn phí cũng mất theo.
Người đã có sẵn đồ đạc mình thích. Nếu bạn đã có tủ lạnh và giường, bạn đang trả tiền cho thứ không cần. Còn nếu vấn đề của bạn là môi giới cứ từ chối thẳng, đó là chuyện khác: đọc bài thuê nhà ở Nhật cho người nước ngoài.
Câu hỏi thường gặp
Phòng có sẵn nội thất ở Tokyo có đắt hơn phòng thường không?
Tính theo tháng thì thường nhỉnh hơn một chút. Tính cả năm đầu thì gần như không bao giờ, vì bạn tránh được khoản vào nhà cỡ 395.300 yên cộng với 130.000 đến 300.000 yên tiền sắm đồ. Hợp đồng thường chỉ đuổi kịp sau khoảng bốn đến tám năm, tùy bạn mua đồ mới hay đồ cũ.
Có sẵn những gì, và không có gì?
Ở đơn vị này: giường, bàn, ghế, rèm, điều hòa, tủ lạnh, lò vi sóng, máy giặt và tivi. Chăn đệm phải thuê thêm 1.000 yên mỗi tháng chưa thuế. Nồi niêu, bát đũa và chăn ga là bạn tự mua. Các nơi khác gói rất khác nhau, nên phải hỏi từng món.
Tôi có phải dùng chung bếp và nhà tắm không?
Không, nếu là căn hộ có sẵn nội thất. Đó là phòng khép kín một buồng hoặc 1K, bếp và khu vệ sinh riêng bên trong. Chuyện dùng chung chỉ đúng với share house, là một sản phẩm khác. Hãy hỏi rõ loại phòng trước khi thích cái giá.
Lúc về nước, vứt đồ đạc tốn bao nhiêu?
Với đồ của chính bạn, hãy dự trù 20.000 đến 40.000 yên cho một phòng một buồng. Đồ cỡ lớn phải đăng ký thu gom sodai-gomi trước và mua tem trả phí theo từng món; tủ lạnh, máy giặt, tivi và điều hòa nằm trong diện tái chế riêng, khoảng 5.000 đến 7.000 yên mỗi món. Ở phòng có sẵn nội thất thì khoản này bằng 0.
Bán lại đồ cũ trước khi về có gỡ được không?
Được rất ít. Đồ điện gia dụng cũ ở Nhật gần như không có giá bán lại, người mua còn phải tự lo xe chở. Bán qua ứng dụng thì tốn thời gian và thường chỉ thu lại một phần nhỏ so với giá mua. Hãy tính từ đầu rằng phần lớn số tiền sắm đồ là mất hẳn.
Hai người ở một căn hộ có sẵn nội thất được không?
Có tòa cho hai người, có tòa không, nên hãy hỏi ngay từ lúc lọc danh sách chứ đừng để đến lúc ký. Con nhỏ thì lại là chuyện khác: đây không phải nhà ở cho gia đình.
Hỏi cho ra danh sách đồ đạc và tổng chi phí mỗi tháng trước khi quyết.
Buổi tư vấn trực tuyến miễn phí, có tiếng Việt, làm cả cuối tuần và ngày lễ, không phải đến văn phòng. Nhận người từ 18 đến 49 tuổi và chỉ dành cho khách lần đầu.
Đặt buổi tư vấn trực tuyến miễn phí

